Tài nguyên dạy học

TIN RSS

CHATBOX


Hỗ trợ trực tuyến

  • (Vương Quốc Linh)
  • (Lưu Xuân Hà)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chuyen de he 2010

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vương Quốc Linh (trang riêng)
    Ngày gửi: 10h:48' 04-08-2010
    Dung lượng: 547.0 KB
    Số lượt tải: 8
    Số lượt thích: 0 người
    SỞ GD-ĐT NGHỆ AN

    CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HÈ 2010
    Người báo cáo: Hoàng Thị Lân
    ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
    BỒI DƯỠNG HÈ CHO GIÁO VIÊN THCS
    Chương trình tập huấn hè 2010 cho giáo viên THCS có những nội dung như sau:
    Buổi thứ nhất:
    Trao đổi nội dung, cấu trúc chương trình hoá học THCS. Đây là những vấn đề mà trong quá trình giảng dạy các Thầy Cô thường nêu câu hỏi dạy như thế nào cho học sinh hiểu. Chúng ta sẽ cùng nhau bàn luận và tìm lời giải một cách có cơ sở khoa học và đảm bảo tính chính xác cả nội dung lý thuyết và các thí nghiệp thực hành.
    Hoá học là khoa học thực nghiệm chúng ta không thể tuyệt đối hoá một cách cứng nhắc mà phải từ kết quả thực nghiệm để kiểm chứng lại lí thuyết và từ lí thuyết lại trở về thực tiễn đó là con đường nhận thức hết sức biện chứng. Giải quyết từ các tình huống thực tế rất khó khi đó rất cần sự lên tiếng của các Thầy Cô đề cùng nhau bàn bạc tìm được tiếng nói thống nhất trong quá trình giảng dạy sao cho phù hợp với tình hình của địa phương mình. Điều này rất có ý nghĩa với các Thầy Cô cốt cán chuyên môn của Phòng cũng như các Thầy Cô là cộng tác viên thanh tra khi đi dự giờ của Anh em.
    Buổi thứ hai:
    Những kinh nghiệm thực tế của nhiều Giáo viên có thâm niên dạy học và đã gặt hái được nhiều thành tích trong quá trình công tác về công việc chuẩn bị kế hoạch bài giảng cho một tiết dạy học, và minh họa những kinh nghiệm đó qua 2 tiết dạy cụ thể ( 1 tiết lớp 8 và 1 tiết lớp 9 ).
    Sau đó là sự trao đổi của các Thầy Cô về những vấn đề đã trình bày. Cái chúng ta cần đưa ra trao đổi là : động tác đó, cách dạy đó có phù hợp với học sinh của ta hay không? Giáo viên chéo cua liệu có làm được như vậy hay không? dạy như thế ở vùng ta có hiệu quả hay không? nếu không thi đơn vị kiến thức đó, chi tiết đó chúng ta nên xử lý như thế nào?.....
    Buổi thứ ba:
    Các Thầy Cô thực hành 4 tiết dạy: nội dung bài cụ thể do các thầy Cô tự chọn và phân công nhau. Khi thực hành chỉ yêu cầu : đại diện mỗi nhóm trình bày ý tưởng thiết kế, cách thức xử lý và truyền tải từng đơn vị kiến thức từ Thầy đến trò, và sự trao đổi góp ý của các nhóm còn lại.Yêu cầu từng nhóm đăng ký bài dạy thông báo ngay cho Giảng viên ngay trong buổi 2.
    Buổi thứ tư:
    Là thời gian các Thầy Cô đưa ra các băn khoăn, thắc mắc của mình trong quá trình giảng dạy ở các đơn vị kể cả các kiến nghị với các cấp, đương nhiên các kiến nghị, đề nghị bớt xén hoặc thay đổi một cái gì đó phải kèm theo lý do. Nếu còn thời gian chúng ta sẽ trao đổi một số vấn đề trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, nội dung này không có trong mục tiêu của đợt bồi dưỡng năm nay. Nhưng thực tế lại rất cần, đặc biệt cho các Thầy Cô phải đứng mũi nhọn lớp 9.
    Buổi thứ nhất
    Một số vấn đề cần trao đổi của chương trình hóa học bậc Trung học cơ sở.
    Phần này chia làm 2 mục chính là :
    - Những vấn đề về kiến thức hóa học khi dạy.
    - Những vấn đề về thí nghiệm và thực hành
    ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
    BỒI DƯỠNG HÈ CHO GIÁO VIÊN THCS
    I/Một số vấn đề về kiến thức lý thuyết
    ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
    BỒI DƯỠNG HÈ CHO GIÁO VIÊN THCS
    1.Vấn đề : Phuơng trình hóa học và dạy bài tập phương trình hóa học
    Có thể nói phương trình hóa học ( PTHH ) và công thức hóa học có vị trí quan trọng nhất đối với người học hóa học trong suốt cả quá trình học tập. Đây chính là ngôn ngữ của dân hóa, thông thường trong các bài kiểm tra thi cử hóa học tự luận đề về PTHH, thường thường chiếm ít nhất 50% số điểm và những kiến thức hóa học cơ bản quan trọng nhất cần kiểm tra đều được yêu cầu diễn đạt dưới dạng viết PTHH.
    Để viết được PTHH đúng thì học sinh cần phải có : + Kĩ thuật viết
    + Kiến thức để viết
    Thứ nhất. có dạy về khái niệm PTHH là gì hay không?
    SGK không đề cập đến vấn đề này mà chỉ nói các bước lập PTHH. Nhưng ở sách giáo viên lại viết trong bài học không đặt ra câu hỏi – PTHH là gì? dựa theo nội dung phát triển của bài học phải hiểu PTHH dùng để biểu diễn cái gì? gồm những gì?
    Vấn đề đặt ra là ai phải hiểu điều đó. Thầy phải hiểu là đương nhiên, còn trò có phải hiểu điều đó hay không. Nếu không hiểu điều này thì không thể viết, lập được PTHH. Cho nên trò cũng phải hiểu. Vậy tại sao ta không giảng để trò hiểu ra điều đó mà thực hiện mà lại bắt phải hiểu thông qua quy tắc.
    Vấn đề này trong thực tế nhiều Thầy Cô khắc phục bằng cách giảng nó trong phần đặt vấn đề vào bài như sau:
    Các em nhớ lại 2 nhiệm vụ của môn hóa học là nghiên cứu các chất và nghiên cứu sự biến đổi giữa các chất.
    Với các chất, để biểu diễn chúng người ta dùng công thức hóa học chúng ta đã học ở bài trước.
    Còn sự biến đổi giữa các chất chính là các phản ứng hóa học.
    Vậy thì làm thế nào để biểu diễn được các phản ứng hóa học, người ta dùng PTHH.
    Bài ngày hôm nay ta học về PTHH và chốt lại ngay PTHH là phương tiện dùng để biểu diễn hóa học.
    Sau khi hoàn thành lập PTHH dừng lại 5 phút đàm thoại với học sinh về cấu tạo của PTHH H2 + O2  H2O.
    Thứ 2 Động tác hoàn thành, lập sơ đồ có phải dùng nét đứt : rõ ràng quy định này không khả thi khi thực hiện và một thói quen do lịch sử để lại chúng ta dùng từ Cân bằng PTHH, 2 vấn đề này không nên quan trọng hoá làm gì, chỉ là thuật ngữ mà thuật ngữ này không ảnh hưởng nhiều đến hóa học của chúng ta. Việc vẽ nét đứt chỉ là một khâu trung gian của kỹ thuật viết PTHH. Khi đã thạo rồi chúng ta chỉ kiểm tra được học sinh phương trình sau khi nó hoàn thành, không thể lúc nào cũng theo dõi từng em để đánh giá đúng hay sai. Vì vậy, khi dự giờ thăm lớp đề nghị các Thầy Cô đừng vì những cái lặt vặt như vậy mà đánh giá đồng nghiệp sai lệch.
    Thứ 3 Về việc ghi trạng thái các chất trong PTHH.
    Vấn đề này xin nói thêm cho các Thầy Cô rõ không phải là không nhất quán giữa các lớp. Lớp 8 không, lớp 9 có, lớp 10, 11 và 12 không. Ý tác giả viết sách ở đây là: Lớp 8 các em mới bắt đầu học môn hoá học nên chưa yêu cầu các em phải ghi trạng thái, nhưng lớp 9 lại yêu cầu ghi trạng thái, điều này được các tác giả giải thích như sau: thứ nhất là hợp với thông lệ quốc tế, thứ 2 là các phản ứng hoá học xẩy ra ở trạng thái như thế nào? Và từ đây các em có thể nhớ chất nào hoà tan trong nước, chất nào không hoà tan. Nhiều Thầy Cô hỏi tại sao không để mũi tên lên xuống như ngày xưa cho nó dễ (cái này chỉ có sách Nga dùng thôi) nhưng cũng nói thêm Thầy Cô rằng lớp 10, 11 và 12 nay lại dùng mũi tên đó rồi?
    Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có văn bản nào chính thức là bỏ hay không bỏ nên ta vẫn phải chấp hành trong chừng mực có thể. Nhưng trong những trường hợp cần thiết bắt buộc vẫn phải có, chẳng hạn làm bài toán nhận biết, nên dấu hiệu nhận biết có khí thoát ra hay có kết tủa thì dứt khoát trong PTHH các chất đó phải có trạng thái khí hoặc rắn.
    Vậy ta nên xử sự vấn đề này như thế nào cho thoả đáng.
    Khi dạy Thầy Cô vẫn phải nhắc cho học sinh cần phải ghi trạng thái các chất và nếu có thể Thầy Cô làm gương càng nhiều càng tốt. Nhưng việc học trò có làm theo được đúng như vậy hay không thì cũng không nên quá nặng nề khi kiểm tra đánh giá cho điểm học sinh.
    Thứ 4 Về việc phân định rõ vai trò của PTHH
    Ta đã biết một PTHH chỉ được công nhận là đúng khi đúng cả về tính chất cả về lượng (Bảo toàn khối lượng). Nhưng trong nhiều trường hợp nó chỉ đóng vai trò là một phương tiện để tính toán định lượng thì yêu cầu của PTHH lại khác.
    Ta phân tích kĩ qua một ví dụ sau đây
    Xét 2 bài toán :
    1/ Cho m ( g ) Na vào 200ml dd CuSO4 1M thu được dd A có V lít H2 bay ra và 9,8g kết tủa. Tính m, V và CM của dd A.
    2/ Cho m ( g ) Na vào 200ml dd CuSO4 1M thu được dd A có V lít H2 bay ra và 9,8 g kết tủa.
    a/ Viết các phương trình hoá học.
    b/ Tính m , V và CM của dd A.
    Ở bài toán 1 không yêu cầu học sinh viết PTHH mà chỉ yêu cầu tính toán nên các em có thể viết :
    + Cách 1 2Na r + 2H2O l  2NaOH dd + H2 k
    2NaOH dd + CuSO4 dd  Na2SO4 dd + Cu(OH)2 (r).
    + Cách 2 Na + H2O  NaOH + ½ H2
    NaOH + ½ CuSO4  ½ Na2SO4 + ½ Cu(OH)2 (r).
    Hoặc cách 3 2Na + 2H2O+CuSO4  Na2SO4 + Cu(OH)2+ H2.
    Rồi sau đó tính toán đều cho các cách làm đúng.
    Các lời giải trên đều được chấp nhận vì bài toán không yêu cầu viết PTHH mà chỉ yêu cầu tính toán, vì vậy pt ở đây chỉ với tư cách là một phương tiện để tính toán.
    Ở bài toán 2 thì bắt buộc học sinh phải trình bày bằng cách 1, nếu viết bằng cách 2 thì không nên.
    Cách 2 phạm luật ở hệ số không được dùng là phân số, hiện tượng này hay được gặp ở hữu cơ. (Phân tích theo ý nghĩa của PTHH).
    Cách 3 phạm luật ở chỗ gộp hai phản ứng là 1.
    Theo quy ước : mỗi phản ứng được biểu diễn bằng 1 PTHH, ở đây có 2 phản ứng hoá học phải có 2 PTHH nếu yêu cầu, chứ không được gộp.
    Những điều này có thể dạy, có thể không tuỳ ý vào từng lớp học và năng lực tiếp thu của trò. Nhưng thầy cô thì phải biết để khi ra đề kiểm tra hoặc phải cân nhắc khi chấm bài. (gv nên hướng dẫn hs làm theo cách 1 trong mọi trường hợp)
    BT3: Cho 2,3 gam Na vào 100 ml dd CuSO4 (d = 1). Tính thể tích khí H2 ở ĐKTC. Nồng độ % của dung dịch thu được.
    BT4: Cho 2,7 gam Al vào 100 ml dung dịch NaOH 0,05M (d = 1). Tính thể tích khí H2 ở ĐKTC. Nồng độ % của dung dịch thu được.
    2.Vấn đề : Hóa trị của Fe – Khai thác đến mức độ nào ở cấp II.
    Hai kim loại cụ thể được giới thiệu trong Hóa 9 là Al và Fe.Chúng đều có t/c của kim loại.
    Mỗi chất đều có tính chất riêng Nhôm tan trong kiềm
    Fe nhiều hóa trị
    Vấn đề là khai thác tới mức độ nào?
    Trong SGK căn cứ vào kiến thức SGK đưa ra chúng ta có thể khái quát được phần lớn các trường hợp Fe  Fe III ( oxi hóa mạnh như Cl2 , KMnO4 , H2SO4 đặc nóng, HNO3, AgNO3 ….
    Những trường hợp Fe  Fe II (có tính oxi hóa không mạnh).
    (Axit bình thường, muối của các kim loại sau Fe).
    2.Vấn đề : Hóa trị của Fe – Khai thác đến mức độ nào ở cấp II.
    Nhưng còn 3 chỗ sách không đề cập hoặc đề cập không rõ là :
    + Fe + dd AgNO3 Fe II hay Fe III.
    + Fe II Fe III.
    + Fe III Fe II.
    Những kiến thức này lại có trong hầu hết các đề thi học sinh giỏi, thi tuyển vào các trường chuyên, thi đại học…
    Vậy thì ta nên khai thác tới mức nào?
    Với những lớp thường tốt nhất ta phớt lờ đi chỉ dừng lại như trong SGK. Nhưng khi học trò hỏi thì chúng ta phải trả lời một cách thấu đáo, vì học trò bây giờ chúng đọc rất nhiều sách, và cũng hết sức lưu ý các Thầy Cô khi ra bài kiểm tra định kì cho học sinh. Các Thầy Cô làm chuyên môn mà phòng giao trách nhiệm ra đề kiểm định chất lượng đại trà thì chúng ta nên ra đề sao cho phù hợp đảm bảo tính chính xác của đề ra, không tạo ra những mâu thuẩn giữa các Giáo viên.
    2.Vấn đề : Hóa trị của Fe – Khai thác đến mức độ nào ở cấp II.
    Nhưng khi dạy bồi dưỡng thì chúng ta phải đề cậo rõ và đầy đủ riêng phản ứng:
    Fe + AgNO3 phải xét mạch lạc.
    Hai trường hợp : - AgNO3 dư thì Fe + 3AgNO3 Fe(NO3)3 + 3Ag.
    - nếu Fe dư thi Fe + 2AgNO3  Fe(NO3)2 + 2Ag.
    Nhưng phải giới hạn và giải thích, ở cấp II ta chỉ dừng lại ở trường hợp thứ 2.
    Đáng tiếc là ngay trong SGK, có những bài tập bị vướng vào chỗ này, ví dụ:
    bài tập 5 trang 167 bài ôn tập cuối năm: Cho 4,8 gam hh Fe và Fe2O3 vào dd CuSO4 dư được dd A và chất rắn B. Cho dd HCl dư vào B được 3,2 gam chất rắn màu đỏ. Tính % các chất trong 4,8 gam hh đầu. ( Sách chỉnh lí đã thay Fe2O3 bằng Al2O3)
    Khi dạy bài này các Thầy Cô có thể thiết kế bài khác thay thế, còn nếu trò hỏi thì đề nghị phải giải đúng và có chú thích sau này các em sẽ được học sâu hơn về Fe ở lớp 12.
    2.Vấn đề : Hóa trị của Fe – Khai thác đến mức độ nào ở cấp II.
    Bài 5 trang 167 ; giải đúng như sau.
    Fe + CuSO4  FeSO4 + Cu ( 1 ).
    Phần không tan gồm Cu và Fe2O3
    Fe2O3 + 6HCl  2FeCl3 + 3H2O ( 2 )
    phải có phản ứng Cu + 2FeCl3  2FeCl2 + CuCl2 ( 3 ).
    Nếu không có pư 3 thì bài toán có đs khác, vấn đề là đối tượng như thế nào thì ra đề cho thoả mãn.
    (Bài này các Thầy Cô giải xem)
    3. Vấn đề điều kiện của phản ứng trao đổi xảy ra hoàn toàn
    Khi học bài t/c của axít trò đã được làm quen với axit mạnh, axit yếu. Nhưng khi dạy bài điều kiện của phản ứng trao đổi sách chỉ đề cập một trong hai sản phẩm có khí hoặc không tan. Trước đây có đề cập đến axit tạo thành yếu hơn axit tham gia. Vướng ở 2 chỗ : Trong phản ứng axit + muối, muối mới tạo thành không tan trong nước nhưng có tan trong axit hay không chưa biết tìm ở đâu.
    Nếu muối mới tan nhưng axit mới yếu hơn thì có phản ứng xảy ra hay không?
    Ví dụ : phản ứng Ca3(PO4)2 + HCl  không có pư
    hay CaCl2 + H3PO4  Ca3(PO4)2 + HCl CH3COONa + H2SO4  CH3COOH + Na2SO4.
    FeS + HCl  FeCl2 + H2S
    CuS + HCl  CuCl2 + H2S
    có xảy ra hay không? Vấn đề này các Thầy Cô muốn tìm hiểu sâu thì phải đọc thêm tài liệu có lên quan đến tích số tan, hằng số cân bằng, chiều diễn biến của phản ứng.
    Trường hợp này xử lý thế nào?
    4.Khi giải các bài tập định lượng mà kết quả là số gần đúng : đề nghị các Thầy Cô lưu ý học sinh cách ghi kết quả làm tròn số. Toàn bộ các dữ liệu bài cho chọn số nào có số chữ số thập phân nhiều nhất thì lấy làm mốc và ghi kết quả theo cấp chính xác của dữ liệu đó.
    5. Về cơ chế của phản ứng este hoá giữa ruợu và axit

    CH3COOH +C2H5OHCH3COOC2H5 +H – OH
    Vấn đề đặt ra phân tử nước tạo thành của phản ứng gồm H và OH. Thì H của axit hay của rượu tương tự OH của rượu hay của axit. Nếu mới nhìn qua nhiều người nghĩ rằng H là của axit vì H của axit linh động hơn H trong OH của rượu, nhưng thực ra không phải như vậy.
    Ở phản ứng trên : H của H2O tạo thành từ rượu
    OH của H2O tạo thành từ axit.
    Điều này lý giải tại sao người ta xếp t/c tác dụng với rượu của axit riêng ra mà không xếp cùng t/c axit của axit axetic.
    6.Vấn đề trình bày lời giải giữa các bài toán dd hỗn hợp chứa hai hay nhiều chất có một thành phần giống nhau.
    Ở lớp 11 sau khi học về ion và phương trình ion thu gọn việc giải các bài tập cũng như trình bày tự luận các bài tập kiểu này rất đơn giản. Nhưng ở THCS các bài toán kiểu này phần lớn là ở mức độ nâng cao cho học sinh khá giỏi, khi giải thì tuỳ vào mỗi bài. Điều muốn nói là lời giải.
    Trước hết dạy cho học sinh dùng thuật ngữ ion và làm gộp giống lớp 11 là phạm luật về mặt sư phạm nên chúng ta không được làm như vậy. Khi chấm thi học sinh giỏi đã có một số em làm như vậy. Mà ở đây chúng ta phải dùng thuật ngữ bảo toàn nguyên tố hoặc nhóm nguyên tố. Kết hợp với ý nghĩa của công thức hóa học đề trình bày, đề nghị các Thầy Cô không dạy học sinh ion ví dụ H+, SO42- , Na+, Fe3+... Vì các em chưa hiểu gì về thuyết điện li, về cấu tạo nguyên tử
    Ví dụ : cho 200ml dd HCl 0,3M và H2SO4 0,2 M tác dụng vừa đủ với 100ml dd Ba(OH)2 0,3 M và NaOH xM . Tìm x.

    - Phải viết đủ 4 pt
    - nHCl = 0,06.Theo CTHH của HCl có nH = nHCl =0,06
    nH2SO4 = 0,04.Theo CTHH của H2SO4 nH = 2nH2SO4 = 0,08.
    Tổng nH = 0,06+ 0,08 = 0,14.
    Theo cả 4 pt đều thấy nH = nOH nOH trong bazơ = 0,14.
    nBa(OH)2 = 0,03 nOH trong Ba(OH)2 = 0,06.
    nOH trong NaOH = 0,08.
    Theo CTHH nNaOH = nOH = 0.08 CM = x = 0,8M.
    7.Xử lý khó khăn khi dạy bài nước lớp 8.
    Bài nước được học trong 2 tiết.
    T1 : Cách xây dựng và xác định CTHH của nước.
    T2 : Tính chất của nước.
    Do sự trùng lặp về thời điểm nên bài này hay bị trùng vào kỳ thi giáo viên giỏi huyện. Điều băn khoăn của anh chị em khi dạy bài này là.
    Bản thân công thức hóa học của nước, thành phần của nước đã được giới thiệu nhiều lần (bài 6 T2 – phân tử ; bài 9 công thức hóa học). Bây giờ ta lại xây dựng công thức hóa học của nước với tư cách là TN nghiên cứu bài giảng có vẻ gượng ép và mang tính luẩn quẩn.
    7.Xử lý khó khăn khi dạy bài nước lớp 8.
    Khi đang nhằm mục tiêu phân huỷ nước để đi làm thành phần hóa học của nước (coi như chưa biết công thức) thì đã viết ngay (sách viết) pthh phân huỷ nước, tương tự viết ngay pthh tổng hợp nước.
    2 H2O  2H2 + O2
    2H2 + O2  2 H2O
    Điều này không hợp lý về mặt logic sư phạm. Vì vậy khi dạy, không nên viết pthh ngay mà chỉ dùng chữ để viết. Chỉ sau khi đã xây dựng được CTHH của nước là H2O mới quay lại thay các chữ trong phương trình chữ bằng CTHH để hoàn thành pt.
    Cần nhấn mạnh ý tượng của người viết sách là giúp học sinh hiểu được, hình dung được một cách vắn tắt con đường mà các nhà khoa học đã phải trải qua khi đi tìm CTHH của nước
    7.Xử lý khó khăn khi dạy bài nước lớp 8.
    Ở tiết 2 Khi giới thiệu t/c H2O + oxit Bazơ nên khái quát ngay kim loại nào + H2O ở nhiệt độ thưòng thì oxit tương ứng của nó cũng tác dụng đựoc với H2O ở nhiệt độ thường, hay hidroxit của kim loại nào tan trong nước thì kim loại đó và oxit của nó tác dụng được với nước, thay cho dấu 3 chấm…
    8.Vấn đề đọc tên chất, đọc tên công thức hóc học của chất.
    Khi dạy học trò, chúng ta nên lưu ý phân định các khái niệm :
    Tên hóa học của chất
    Tên thông thường
    Tên công thức của chất
    Ví dụ : với NaCl muối ăn ( tên thông thường )
    Natri clorua ( tên hoá học )
    Nờ a xe elờ ( tên CTHH của chất )

    Khi dạy chúng ta có thể nói, có thể không. Nhưng khi rèn kỹ năng yêu cầu các em phải sử dụng đúng yêu cầu. Khi nào là đọc công thức, khi nào là đọc tên chất.
    9. Vấn đề : Nồng độ của dd nước vôi trong bão hòa.
    Trong bảng tính tan Ca(OH )2 là chất ít tan.
    Trong sách cũ không giới thiệu. Cụ thể độ tan của nó là bao nhiêu cho nên khi đề thi hoặc kiểm tra trước đây bài toán cho CO2 vào nước vôi trong rất tuỳ tiện có khi tới 0,5 ; 0,7 M…
    Như vậy là phi thực tế.
    SGK mới giới thiệu rất cụ thể : Khi đun cạn một lít dd nước vôi trong bão hoà chỉ thu được khoảng 2 (g)Ca(OH)2 n/c như vậy nồng độ của nước vôi trong bão hoà chỉ khoảng C% 0,2 % ; CM 0,027 M ( = 2/74 ).
    Nhắc điều này để mong các Thầy Cô lưu ý khi ra đề kiểm tra phải ra làm sao cho phù hợp với thực tế.
    10. Vấn đề nặng nhẹ của chương dd và nồng độ dd.
    Phần nồng độ dd rất quan trọng theo các em suốt quá trình học hóa, giúp các em giải một phần lớn các bài tập định lượng hóa học. Theo mức độ kiến thức mà chương trình SGK đưa ra. Hai tiết tính toán nồng độ C% , CM ; hai tiết tính toán pha chế dd, hai tiết luyện tập. Chỉ xét các dd không có phản ứng hóa học xay ra.
    Sang lớp 9 không có tiết nào dạy về vấn đề này mà bài tập thì phải làm ngay các bài toán nồng độ dd, có liên quan đến phản ứng hóa học, đây là một khó khăn cho cả thầy và trò. Kinh nghiệm của nhiều Giáo viên khi giải quyết vấn đề này :
    10. Vấn đề nặng nhẹ của chương dd và nồng độ dd.
    - Ngay khi dạy bài hai nồng độ dd ta đưa ra một số chú ý. Trong đó có một chú ý quan trọng.
    + Thông thường với bài toán CM : khi cho biết chất rắn hoặc chất khí tan vào dd thì làm cho thể tích dd thay đổi không đáng kể. Ngược lại, khi có chất khí bay ra khỏi dd hoặc kết tủa lọc ra khỏi dd làm cho thể tích giảm không đáng kể. Vì vậy, nếu đầu bài không nói gì thêm về chỗ này ta coi như thể tích không thay đổi. Khi trộn hai dd với nhau thì thể tích dd thu được coi như bằng tổng thể tích hai dd.
    + Với bài toán C% thì mdd luôn luôn theo quy tắc bảo toàn khối lượng. Cứ cho vào là phải cộng, thoát ra là phải trừ rồi sau đó đưa ra một số ví dụ.
    Chẳng hạn : cho kẽm tan vào dd HCl dd A
    Thì V dd A = Vdd HCl
    m dd A = m dd HCl + mZn - mH2.
    - Mặc dù SGK không đưa ra nhưng khi luyện tập chúng ta hoàn toàn có thể lấy được các ví dụ về tính nồng độ có liên quan đến phản ứng hóa học, nhất là sau khi học bài nước. Chỗ này đề nghị chúng ta nên linh hoạt trong vận dụng. SGK không đề cập không có nghĩa là chúng ta không được đề cập đến, vấn đề là phải đúng và phù hợp với trình độ của từng lớp học và không được coi nhẹ những kiến thức bắt buộc mà sách đã đưa ra có nghĩa là : không được bớt phần sách đưa ra để lấy thời gian làm những ví dụ mình thích hoặc mình cho là quan trọng, là thiết thực.
    10. Vấn đề nặng nhẹ của chương dd và nồng độ dd.
    11. Vấn đề : quan niệm thế nào cho đúng khi nói ra Nhôm là kim loại lưỡng tính.
    Trước hết cần khẳng định Nhôm là kim loại: chứ không phải lưỡng tính, chỉ có Al2O3 là oxít lưỡng tính, Al(OH)3 là hợp chất lưỡng tính.
    Theo nghĩa: Al2O3 + axít : Al2O3 là oxít bazơ.
    Al2O3 + kiềm: Al2O3 là oxít axít.
    Tương tự : Al(OH)3 + axít : là bazơ
    Al(OH)3 + bazơ: là axít ( HAlO2.H2O : axít aluminic ngậm nước ).
    11. Vấn đề : quan niệm thế nào cho đúng khi nói ra Nhôm là kim loại lưỡng tính.
    Phản ứng Al tan trong kiềm. Xét cho cùng thì đó là phản ứng của Al + H2O. Sở dĩ trong nước phản ứng này không xảy ra là do Al(OH)3 tạo thành không tan trong nước nên tạo lớp màng bảo vệ, không cho các nguyên tử Al bên trong tiếp xúc với nước phản ứng lập tức dừng lại.
    Nhúng trong môi trường kiềm, Al(OH)3 bị tan nên không bảo vệ được các nguyên tử Al bên trong phản ứng Al + H2O tiếp tục xảy ra : nên Nhôm tan được trong kiềm.
    12.Vấn đề về tính dẫn điện của kim loại?
    Sách Hóa học lớp 9 và 12 :
    Tốt nhất : Ag > Cu > Au>Al…..
    13.Một số chi tiết cần chuẩn lại mà sách giáo khoa còn thiết sót.
    Về cơ bản, giữa chuẩn kiến thức và SGK là thống nhất tuy nhiên còn một vài cần lưu ý như :
    13.Một số chi tiết cần chuẩn lại mà sách giáo khoa còn thiết sót.
    - Trong chuẩn kiến thức còn sử dụng một số dấu 3 chấm. Khi dạy tuỳ đối tượng lớp học. Dấu 3 chấm các Thầy Cô được mở rộng thoải mái nhưng yêu cầu phải đúng và kèm theo các điều kiện chặt chẽ. Khi kiểm tra đánh giá đại trà chỉ dừng lại ở các tính chất học sinh được giới thiệu.
    - Về tính chất hóa học của benzen.Trong chuẩn kiến thức , yêu cầu học sinh nắm được khả năng cộng của benzen với H2 và với Cl2 còn SGK không đề cập đến khả năng cộng của benzen với Cl2, khi dạy chúng ta nên giới thiệu thêm phản ứng này.
    13.Một số chi tiết cần chuẩn lại mà sách giáo khoa còn thiết sót.
    Thước đo pháp lý về kiến thức phải dựa trên chuẩn kiến thức (in trong cuốn Chương trình giáo dục phổ thông mà trong tay các hiệu trưởng đều có, còn SGK chỉ là phương tiện có thể nói là tối ưu về mặt phương pháp và sư phạm giúp ta dạy học. Trong tình hình hiện nay, chúng ta vẫn thấy được sự tối ưu đó và nên theo còn những chi tiết nào chưa chính xác, bố cục nào chưa hợp lý nếu muốn thay đổi yêu cầu phải có sự bàn bạc thống nhất trong nhóm tổ, mọi lý lẽ đưa ra phải có tính thuyết phục về mặt khoa học và sư phạm chứ không phải tuỳ tiện thay đổi.
    13.Một số chi tiết cần chuẩn lại mà sách giáo khoa còn thiết sót.
    - Về tính chất hóa học của benzen.Trong chuẩn kiến thức , yêu cầu học sinh nắm được khả năng cộng của benzen với H2 và với Cl2 còn SGK không đề cập đến khả năng cộng của benzen với Cl2, khi dạy chúng ta nên giới thiệu thêm phản ứng này.
    - Hai bài tính chất vật lý và tính chất hóa học khối lượng kiến thức quá lệch nhau
    - Mẫu thang PH trang 29 không phù hợp với học sinh được học vì : với HCl 0,1M ( PH = 1 ) màu đỏ.
    chứng tỏ chất tẩm vào giấy PH là quỳ tím.
    Môi trường nước cất phải có màu tím
    NaOH 1M phải có màu xanh
    Trong khi sách thì ngược lại.
    13.Một số chi tiết cần chuẩn lại mà sách giáo khoa còn thiết sót.
    - SGK dùng dấu 3 chấm… khó khăn cho việc kiểm tra, ra đề, rèn luyện kỹ năng cho học sinh nên chăng thay … bằng các chất cụ thể và chú ý trong phạm vi ở cấp II chỉ xét chất đó.
    - H2, CO, có khử được ZnO hay không (chấp nhận khử được)
    - Bazơ kiềm khan có tác dụng với oxít axít hay không (sách cũ là có, sách mới thấy mọi chỗ đều là dd bazơ). Khi dạy chấp nhận khan cũng phản ứng.
    - Bài tính theo CTHH thành phần các nguyên tố trong KNO3 chỉ là số gần đúng. Khi dạy các Thầy Cô có thể chọn chất khác ra số đúng như : Fe2O3, NaOH, Fe2(SO4)3 , CuSO4…. nếu vẫn giữ KNO3 thì ghi kết quả phải dùng dấu .
    13.Một số chi tiết cần chuẩn lại mà sách giáo khoa còn thiết sót.
    - Khi dạy bài : “Sự ăn mòn kim loại” trang 64 sách có viết : nước biển có chứa NaCl , MgCl2 …những chất này tác dụng với kim loại hoặc hợp kim sắt tạo gỉ sắt là không chính xác ít nhất là ở bậc trung học cơ sở nếu trò hỏi ta sẽ không viết được pt. Vì vậy khi dạy nếu giảng chỗ này chúng ta chỉ có thể nói sự có mặt của NaCl và MgCl2 làm tăng tính điện ly của môi trường nước thúc đẩy nhanh hơn các quá trình ăn mòn điện hóa. Bản chất của các quá trình này rất phức tạp, các em sẽ được tìm hiểu kỹ sau này ( ở lớp 12 ).
    II/ Những vấn đề về thí nghiệm và thực hành
    Qua thống kê toàn bộ chương trình hóa học bậc THCS chúng ta phải làm ở
    Lớp 8 : khoảng 36TN ( vì không có mục ở lớp 9 ).
    Lớp 9 : 80TN
    Trong đó : lớp 8 : thầy biểu diễn : 21
    trò làm : 15 chủ yếu trong các bài thực hành
    lớp 9 : phần vô cơ : thầy làm : 13
    trò làm : 39
    phần hữu cơ : thầy làm : 12
    trò làm : 14.
    Số thí nghiệm bị trùng lặp : lớp 8 : 7
    lớp 9 : 19.
    Một số khó khăn khi làm TN:
    - Độc hại : có khí Cl2 5TN (nên tư vấn cho nhà trường mua bộ dụng cụ TN điều chế khí không gây ô nhiễm môi trường).
    - Khó thành công và không phản ánh đúng giữa lý thuyết và thực tế.
    - Khó làm vì chất lượng hoá chất, quỳ tím.
    - Không có tính khả thi trong thực tế : ( 37 ) ….
    II/ Những vấn đề về thí nghiệm và thực hành
    Một số khó khăn khi làm TN:
    - Độc hại : có khí Cl2 5TN (nên tư vấn cho nhà trường mua bộ dụng cụ TN điều chế khí không gây ô nhiễm môi trường).
    - Khó thành công và không phản ánh đúng giữa lý thuyết và thực tế.
    - Khó làm vì chất lượng hoá chất, quỳ tím.
    - Không có tính khả thi trong thực tế ….
    II/ Những vấn đề về thí nghiệm và thực hành
    1, Học sinh được tiếp cận với thực tế nghiên cứu khoa học cần rèn luyện cho học sinh những kĩ năng thao tác thực hành hoá học đơn giản nhưng rất cơ bản như kẹp ống nghiệm, cầm , hơ, đốt, trích mẫu thử, rửa ống nghiệm, đọc tên các dụng cụ cơ bản…những cái này thuộc về kiến thức trực quan.
    II/ Những vấn đề về thí nghiệm và thực hành
    2, Là 1 kênh trực quan rất hiệu quả để trò lĩnh hội các kiến thức, số lượng các TN đạt tới mục đích này không nhiều (những TN nghiên cứu). Với những TN này nhất thiết giáo viên phải làm trước nếu thành công thì mới tiến hành để giảng dạy, nếu không thành công thì phải tìm được lý do hoặc giải thích mang tính thuyết phục, nếu không thì sẽ trở thành phản tác dụng. Trường hợp làm TN không đạt kết quả như mong đợi thì phải tìm cách giải thích cho có lý, tránh tình trạng làm méo mó kết quả thực nghiệm.
    II/ Những vấn đề về thí nghiệm và thực hành
    3, Là một phương tiện để minh họa cho các kiến thức lý thuyết mà ở đây chủ yếu là tính chất hóa học của các chất
    II/ Những vấn đề về thí nghiệm và thực hành
    Một số TN khó làm cố gắng tìm những TN khác thay thế có tính khả thi. Ví dụ : TN Fe + S nếu ở lớp 8 có thể thay thế bằng TN Na + S, nhưng ở lớp 9 thay bằng TN Fe + O2. Tuỳ việc thay thế với những mục đích khác nhau thầy giảng giải trong quá trình làm TN sao cho hướng đến mục tiêu cuối cùng mà TN đặt ra.
    Một số kinh nghiệm phát huy vai trò của thí nghiệm trong giờ dạy Hóa học THCS
    Đảm bảo an toàn thí nghiệm:
    Đảm bảo chất lượng cao về khoa học và về mặt giáo dục:
    Đảm bảo cung cấp cho học sinh tiềm lực để phát triển toàn diện:
    Đảm bảo truyền đạt cho học sinh theo những qui tắc sư phạm tiên tiến nhất.
    Số lượng thí nghiệm trong một bài vừa phải, lựa chọn thí nghiệm dễ thực hiện.
    Kết hợp chặt chẽ thí nghiệm với lời giảng của giáo viên
    Phải xác định vị trí của từng loại thí nghiệm
    Đối với thí nghiệm để nghiên cứu bài mới
    Tùy vào điều kiện trang bị cơ sở vật chất giáo viên có thể tiến hành bằng 2 cách:
    * Toàn lớp cùng 1 làm thí nghiệm: Nếu điều kiện trang thiết bị hạn chế
    * Từng nhóm làm thí nghiệm.
    -Thí nghiệm thực hành của học sinh
    Một số kinh nghiệm phát huy vai trò của thí nghiệm trong giờ dạy Hóa học THCS
    Trình tự giờ thực hành:
    • Phân thành nhóm nhở từ 6 đến 8 học sinh hoặc tùy theo điều kiện và tình hình cụ thể → phân công công việc rõ ràng
    • Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh
    • Nêu ngắn gọn mục đích thí nghiệm, phương pháp tiến hành thí nghiệm
    • Hướng dẫn cách quan sát và cách ghi chép
    • Lưu ý học sinh cần tuân thủ các qui tắc an toàn thí nghiệm.
    • Giao dụng cụ hóa chất, học sinh kiểm tra lại dụng cụ hóa chất, Phiếu tường trình thực hành theo mẫu
    • Khi học sinh làm thí nghiệm giáo viên theo dõi các thao tác của từng nhóm để uốn nắn sửa những sai sót cần thiết nhưng không làm thay học sinh.
    • Cuối giờ, mỗi học sinh phải hoàn thành bài tường trình của mình
    Sau cùng yêu cầu học sinh rửa dụng cụ, sắp xếp ngăn nắp vào nơi qui định.
    Một số kinh nghiệm phát huy vai trò của thí nghiệm trong giờ dạy Hóa học THCS
    MỘT SỐ LƯU Ý KHI DẠY BÀI THỰC HÀNH HOÁ HỌC Lớp 9
    Bài thực hành: Lưu ý về an toàn toàn trong TN
    Tính chất hoá học của oxit và axit
    Phản ứng của CaO với nước rất mạnh, tỏa nhiều nhiệt, không làm thí nghiệm với lượng CaO lớn, nước sẽ bắn vào người. Không sờ tay ướt vào vôi sống.
    Phản ứng của P và O2 cháy mạnh, tỏa nhiều nhiệt, chỉ lấy 1 lượng nhỏ P. Không để muỗng đựng hóa chất đang cháy chạm vào thành lọ thủy tinh. Khi làm thí nghiệm không ghé mặt gần lọ thủy tinh.
    Làm thí nghiệm với các dung dịch H2SO4, HCl phải cẩn thận, không để dây vào quần áo.
    Sử dụng hóa chất tiết kiệm, không tự ý làm các thí nghiệm khác.
    MỘT SỐ LƯU Ý KHI DẠY BÀI THỰC HÀNH HOÁ HỌC Lớp 9
    Bài thực hành: Lưu ý về an toàn toàn trong TN
    2. Tính chất hoá học của bazơ, muối- Làm thí nghiệm với các dung dịch H2SO4, NaOH phải cẩn thận, không để dây vào quần áo.- Khi gạn ống nghiệm để giữ lại phần kết tủa Cu(OH)2 phải làm cẩn thận, gạn nhẹ để giữ lại 1 phần kết tủa Cu(OH)2­ trong ống nghiệm, nếu không Cu(OH)2 sẽ theo dung dịch đi mất- Dùng giấy rap đánh thật sạch một cái đinh sắt (hoặc một mẩu dây sắt nhỏ) cẩn thận vì đinh sắt có thể làm xước da tay. Đinh sắt cần sạch hết lớp gỉ bên ngoài mới dễ tham gia phản ứng.
    MỘT SỐ LƯU Ý KHI DẠY BÀI THỰC HÀNH HOÁ HỌC Lớp 9
    Bài thực hành: Lưu ý về an toàn toàn trong TN
    3. Tính chất hoá học của nhôm, sắt
    Để thí nghiệm thành công cần có bột Fe, bột Al, bột S khô và được bảo quản trong lọ kín
    Có thể tự tạo bột nhôm bằng cách lấy dũa Fe dũa một mảnh đồ nhôm đã hỏng.
    Phản ứng của bột Fe tác dụng với vột S tạo ra lượng nhiệt lớn nên phải làm với lượng hóa chất nhỏ, đun cẩn thận và có thể làm trong hõm đế sứ.
    MỘT SỐ LƯU Ý KHI DẠY BÀI THỰC HÀNH HOÁ HỌC Lớp 9
    Bài thực hành: Lưu ý về an toàn toàn trong TN
    4. Tính chất hoá học của phi kim và hợp chất của chúng
    - Khi kẹp ống nghiệm trên giá thí nghiệm phải để miệng ống nghiệm hơi chúc xuống, tránh trường hợp hơi nước ngưng tụ chảy ngược về đáy ống nghiệm dễ làm vỡ ống nghiệm
    .- Khi làm thí nghiệm xong phải bỏ ống nghiệm chứa dd Ca(OH)2 ra khỏi ống dẫn thủy tinh trước, sau đó mới tắt đèn cồn.
    Cần có nút cao su vừa khít với miệng ống nghiệm và ống dẫn bằng thủy tinh để khí CO2 tạo thành được đưa sang ống nghiệm chứa dd Ca(OH)2.
    Bột CuO, C cần được sấy khô trước khi trộn và được trải mỏng trong ống nghiệm A.
    MỘT SỐ LƯU Ý KHI DẠY BÀI THỰC HÀNH HOÁ HỌC Lớp 9
    Bài thực hành: Lưu ý về an toàn toàn trong TN
    5. Tính chất của hiđrocacbon
    Hệ thống ống dẫn khí phải kín
    Brom, benzen là những chất độc, khi làm thí nghiệm phải hết sức cẩn thận
    Phản ứng đốt cháy axetilen tỏa nhiều nhiệt. Trước khi đốt phải cho phản ứng giữa đất đèn và nước xảy ra vài giây để axetilen tạo thành đẩy hết phần không khí có trong ống nghiệm. Tránh hiện tượng có thể gây nổ khi đốt.
    Làm thí nghiệm với đất đèn chỉ nên làm với lượng nhỏ.
    MỘT SỐ LƯU Ý KHI DẠY BÀI THỰC HÀNH HOÁ HỌC Lớp 9
    Bài thực hành: Lưu ý về an toàn toàn trong TN
    6. Tính chất của rượu etylic và axitaxetic
    Để tạo thành etyl axetat xảy ra thuận lợi, cần dùng axit axetic đặc, rượu etylic 960, ngâm ống nghiệm thu etyl axetat trong cốc chứa nước lạnh (tốt nhất là nước đá)
    - Làm thí nghiệm với dung dịch H2SO4 đặc phải cẩn thận, không để dây vào quần áo, dễ gây bỏng
    - Rượu khan, cồn 96o dễ cháy, không để gần ngọn lửa đèn cồn
    MỘT SỐ LƯU Ý KHI DẠY BÀI THỰC HÀNH HOÁ HỌC Lớp 9
    Bài thực hành: Lưu ý về an toàn toàn trong TN
    7. Tính chất của gluxit
    Phản ứng của Glucozơ với dung dịch AgNO3 trong dung dịch NH3, để thí nghiệm thành công, ống nghiệm phải thật sạch. Rửa ống nghiệm sau đó tráng bằng dung dịch NaOH loãng, để khô.
    Không đun dung dịch quá nóng
    Khi cho dung dịch Glucozơ vào hỗn hợp AgNO3 trong dung dịch NH3 phải làm nhẹ nhàng, không lắc ống nghiệm.
     
    Gửi ý kiến